BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

TÀI NGUYÊN ĐIỆN TỬ

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg VietNamtrongDNA.jpg Luoc_do_cac_khu_vuc_Chau_A.jpg GIAOTHONGTPHCMMAU3.jpg 1.jpg 100_Nguyen_Thi_Tra_My_.jpg De_tai_cuoc_song_quanh_em_11.jpg FB_IMG_1506775803908.jpg TG07.jpg Chau_Au.jpg VIET_NAM_MAU_3.jpg

    VIDEO BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

    Được sống và kể lại

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 18h:25' 15-03-2024
    Dung lượng: 2.3 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Table of Contents
    Chương 0: Lời tựa. 6
    Chương 1: (không có tên) 7
    Chương 2: Những vỡ vạc đầu tiên – Sự thơ mộng của gian lao. 14
    Chương 3: Phân ly tụ họp – Những cuộc ra đi dằng dặc. 22
    Chương 4: Dứt khỏi quá khứ - Ra đi không lời hẹn. 27
    Chương 5: Núi rừng – Đi, đi, đi – Giai điệu gian lao trập trùng. 35
    Chương 6: Binh trạm – Giới tuyến – Áp sát vào hơi thở của chiến địa. 39
    Chương 7: Hiu quạnh chiến địa - Ấp chiến lược – Cơn mưa bất ngờ - Những va quệt đầu tiên. 46
    Chương 8: Những thử thách ban đầu – Chuyến trinh sát định mệnh – Nhập cuộc. 53
    Chương 9: Hầm ngầm dinh tỉnh trưởng – Thương binh – Sự biến mất ngay bên cạnh mình. 63
    Chương 10: Vào trận – Mạch máu qua sông – Mọi cái đều có thể trở nên bình thường. 69
    Chương 11: Sự cố gắng của thời gian – Công việc ở chiến trường – Cái túi của thương gia. 78
    Chương 12: Những người thoát lui – Thất thủ thành cổ – Không thể khôn, chỉ là may mắn. 84
    Chương 13: Làng đen – Cái chết lạ thường – Cơn đau bụng trời cho. 102
    Chương 14: Xác người ở đâu – Cú điện thoại cảm động – “Giải lao” trở về cao điểm 544. 106
    Chương 15: Câu chuyện tình từ rừng sâu – Chiến sự trước hiệp định ngừng bắn – Sư trưởng và
    chính ủy.
    Chương 16: Cái chết của một thằng bạn – Bức thư của một thằng bạn – Chuyện đơn vị – Chết
    hụt sau hiệ
    Chương 17: Tù binh – Bức chân dung tội đồ – Bộ đội gái và làn gió đời thường. 127
    Chương 18: Đồng bằng lặng lẽ – Nghệ sĩ lính – Khoảng trời yên tĩnh kì lạ. 134
    Chương 19: Rừng thiêng – Chuẩn bị cho cơn bão lớn – Người ở lại, kẻ ra đi 139
    Chương 20: Xuống đồng bằng – Chè xanh và khoai lang luộc. 144
    Chương 20: Đô thị phía Nam – Người phía Nam – Trời đất phía Nam.. 148
    Chương 21: Tâm tưởng trong mùi thơm – Những định hình lạ lẫm.. 152
    Chương 22: Chiến địa trải dài – Cuộc rung mình dằng dặc. 157
    Chương 23: Gang tấc của những cái chết – Lặng thinh và bùng nổ. 163
    Chương 24: Chân đi ngày một nặng – Dòng Đồng Nai xa xăm.. 169
    Chương 25: Ngày cuối cùng của 30 năm – Tử thần không nhớ tới – Lại loanh quanh một mình.
    172
    Chương 26: Đêm duy nhất – Ngày duy nhất – Ly cà phê đầu tiên. 175
    Chương 27: Thương nhớ thế giới này. 180
    Phụ lục 1: Anh hùng thông tin trận “Thành cổ Quảng Trị” Mai Ngọc Thoảng. 183

    Được sống và kể lại
    (Giải thưởng văn học Hội Nhà văn TP.HCM 2010)

    Tác giả: Trần Luân Tín
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Nhà điêu khắc - nhà văn Trần Luân Tín

    Bìa sách xuất bản năm 2009

    Bìa sách tái bản năm 2013

    Chương 0: Lời tựa
    Cuốn sách này là hồi ức - đã được ấp ủ từ lâu - của bạn tôi, nhà điêu khắc Trần Luân Tín.
    Năm 1965 tôi và Tín cùng nhập học vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam khi đó đang sơ
    tán ở Hà Bắc… Tín 14 tuổi, còn tôi mới 11… Hai thằng nhóc đã cùng ngủ chung trên cái giường
    cá nhân bé tí, trong căn nhà cũng bé tí của một gia đình nông dân nghèo, suốt 7 năm trời.
    Những năm cuối của cuộc chiến tranh, đứa trước đứa sau lần lượt nhập ngũ. Tín đi trước,
    làm lính thông tin ở mặt trận Quảng Trị, rồi đến lượt tôi, lính bộ binh, vào Công Tum.
    Gần 30 năm sau, như sự run rủi của số phận, hai đứa lại ở gần nhau, khi tóc đã điểm bạc.
    Rất nhiều việc để chia sẻ, nhiều câu chuyện để kể cho nhau nghe, nhưng ấn tượng nhất, sâu
    đậm nhất vẫn là chuyện về những năm chiến tranh… với tất cả sự đồng cảm của những người
    bạn từng sống bên nhau thời niên thiếu và từng là lính vào sinh ra tử…
    Trong một lần sang nhà bạn chơi, uống trà, chuyện phiếm dông dài lại quay về hồi tưởng.
    Tín thổ lộ ý định đã ấp ủ từ lâu về cuốn sách ghi lại ký ức một thời đạn bom cực kỳ gian khổ, ác
    liệt, nhưng cũng rất nhiều thi vị.
    Dĩ nhiên, đó là việc nên làm. Thi thoảng cần nhìn lại những gì đã qua để hiểu giá trị của
    những gì đang có. Bạn tôi là người từng trải, sâu sắc, cuộc đời có nhiều điều đáng để suy ngẫm.
    Tín viết, với mục đích giản dị ban đầu là kể cho hai đứa con của mình nghe về một quãng đời
    cha đã trải qua… Viết xong đưa bạn bè đọc… câu chuyện về quãng đời ấy thật ấn tượng.
    Một ngày cuối năm, cuốn sách được xuất bản, thật mừng, bèn viết cho bạn đôi lời chân
    thành, chia sẻ cảm nhận rưng rưng của mình qua ký ức về quãng đời của một người bạn tri kỷ
    với tất cả…
    12. 2008
    Hoạ sĩ Nguyễn Thanh Bình

    “Con, một đứa con như trăm ngàn đứa khác
    Khoác trên vai chiếc áo mầu xanh bạc
    Quẳng ba lô, ngồi phịch, nghỉ bên thềm”
    Thu Bồn

    Chương 1: (không có tên)
    Viên cảnh sát da đen to lớn hơi nghiêng đầu chăm chú nhìn tôi, có vẻ ngờ ngợ một người
    quen, lại như là chợt phát hiện ra một người quá lạ... Tôi thoáng nhìn anh ta rồi tiếp tục kéo va
    ly đi. Trong hàng người từ máy bay xuống có lẽ tôi là người nhỏ con nhất. Một người Việt đứng
    tuổi lại hơi ốm yếu.
    Viên cảnh sát bước mấy bước tới gần, đưa ngón tay chỉ vào tôi rồi ngửa cả bàn tay vẽ thành
    một nửa vòng cung về phía cái quầy sắt sáng choang. Tôi hiểu ý, tách ra khỏi hàng người, quay
    va ly, đẩy nó tới sát cái quầy sắt.
    Viên cảnh sát lại sải ba bước dài tiến tới bên tôi. Anh ta lịch sự nghiêng người nói một câu
    tiếng Anh, rồi nhấc cái va ly đặt lên mặt quầy. Cuộc kiểm tra hành lý đột xuất bắt đầu.
    Dường như cái anh chàng to lớn đen thui này không mấy chăm chú vào việc lục lọi hành lý
    của người bị nghi vấn. Lật lật vài bộ quần áo… hai bàn tay thô kệch dừng lại rồi đột ngột vung
    lên, xếp đúng hình tư thế bắn súng tiểu liên. Một mắt nheo, một mắt mở to nhắm vào tôi.
    “Bằm…bằm…bằm… Vixi? Bằm…bằm…bằm…Vixi?...”. Con mắt mở của anh ta sáng rực lên cùng
    với câu hỏi.
    Tôi hiểu ý, nhoẻn cười vì động tác ngộ nghĩnh của người cảnh sát, bật trả lời: “Yét…
    Đátroai!”.
    “Ô, gút, gút…”. Bộ sắc phục cảnh sát nhàu nhò khi người da đen cúi xuống ôm lấy vai tôi.
    Anh ta siết nhẹ rồi lắc nhẹ. Khi tôi chạy vội theo kịp những người cùng đoàn rồi ngoái lại, thấy
    người cảnh sát to lớn vẫn nhìn theo, anh đưa ngón tay cái lên giật giật, hai hàm răng trắng ngời
    mở rộng.
    Hoạt cảnh này xảy ra tại ga máy bay Lốt ăng giơ lét vào năm 1997, khi tôi lần đầu tiên xuất
    ngoại, lại tiến thẳng tới cái đất nước cách đây gần 30 năm đã ùn ùn kéo quân sang dày xéo tan
    tành quê hương tôi.
    Người cảnh sát kia tuổi còn trẻ, hẳn không thể có mặt trong đoàn quân viễn chinh của nước
    Mỹ ngày nào.
    ***

    Tôi rong ruổi trên đất Mỹ. Loanh quanh qua những thành phố nhà cao chọc trời. Đến miền
    Bắc tuyết lạnh, miền Trung đất đỏ, núi đỏ, ra biển xanh ngăn ngắt. Cuối cùng thì trở về Cali, nơi
    có đông người Việt Nam sinh sống.
    Khí hậu Cali rất giống Sài Gòn, bầu trời cao trong và thoáng đãng. Một buổi sáng, tôi ngồi
    uống cà phê với hai viên đại tá người Việt, họ là đồng minh của Mỹ trong chiến tranh. Hai viên
    cựu sĩ quan đã có tuổi, họ thận trọng, nhưng niềm nở.
    Khó mà quên được những dãy quán của người Việt ở trên đất Mỹ, bởi vì những chữ Việt,
    cũng vì cái âm Việt ở đây sao thấy xa xôi, mà lại thân quen quá: Mỹ Tho, Cần Thơ, Trảng Bom…
    lại có cả Tràng An, Vĩ Dạ.
    Hai người lính già vẻ như rất vui vì có khách, mà lại là khách đặc biệt, một viên trung tá Việt
    cộng mới từ quê nhà sang. Họ hỏi nhiều điều về đất nước, những câu hỏi chứng tỏ thông tin từ
    xứ sở vọng tới nơi này là vô cùng ít ỏi. Rốt cuộc, người có bộ ria mép điểm bạc cũng bày tỏ
    quan điểm, chắc là đã chất chứa trong lòng từ rất lâu:
    - Hồi đó, anh em mình đánh nhau có phần vô lý, có thể giải quyết theo cách khác được. Cuộc
    chiến tàn khốc quá, mà không đem lại cái gì cho ai cả…
    Đề tài mở ra có sức hút, người mặt hồng hào chồm tới, chống hai khuỷu tay lên bàn:
    - Cái này mình phải đặt vấn đề tâm tư của người Việt. Anh thấy sao? Hồi đó lẽ ra phải đặt
    vấn đề này sớm, thì tránh được cuộc huynh đệ tương tàn …
    Hỏi nhưng không kịp để cho tôi đáp. Hai người già sôi nổi, vẻ như lòng trắc ẩn với quê
    hương đất nước, dù muộn màng, cũng đã kịp chất chứa trong lòng họ thành một nỗi niềm.
    Tôi từng nghe cách lập luận này không ít lần. Cách thức là, rút đi các dữ kiện lịch sử của thời
    điểm xẩy ra chiến tranh, chỉ giữ lại nguyên một cục thương đau khốc liệt, đặt nó lên mặt bàn
    của hơn 20 năm sau, và bình luận. Tôi đã nhiều lần xót xa vì sự chân thành ấy, bèn hỏi:
    - Cuộc sống của các anh bây giờ thế nào… có tốt không?
    - Hiện nay hả, rất tuyệt vời bạn ạ. Nước Mỹ là thiên đường. Việt Nam mình không biết có
    ngày được bằng một góc của nó không. Có hy vọng không?
    Rồi lại không kịp để tôi trả lời, hai nhà truyền giáo sôi nổi, rất nhiệt tâm muốn cho người
    đến từ nơi nghèo khó biết được thật nhiều những điều sâu xa tuyệt vời của một xã hội văn
    minh.
    Phải đợi khi cả hai bỗng dưng cùng nhấc ly cà phê lên uống tôi mới có dịp nói được vài lời:
    - Theo tôi thấy thì chiến tranh đã đem lại cho các anh nhiều đấy chứ.
    Hai ly cà phê cùng đặt nhẹ xuống bàn. Không khí chùng lại…
    Từ Mỹ bay trở về. Cánh máy bay ngang ngang trên nền đại dương xanh ngăn ngắt. Bầu trời
    và quả đất vô cùng lơ đễnh, chúng như chẳng có một mối quan tâm nào... Ở dưới ấy, trên mặt
    quả địa cầu vô tư có một dải đất rất hẹp, rất nghèo, rất nhiều đau thương. Đấy là quê hương
    Việt Nam yêu quý của tôi.
    ***

    Năm 1971 miền Bắc lụt một trận rất lớn.
    Tôi nhận giấy báo nhập ngũ khi đang cùng khoa điêu khắc của trường Mỹ thuật dựng tượng
    đài ở Ninh Giang Hải Dương. Những ngày này trời mưa tầm tã, làng quê ướt đầm đìa. Bọn học
    trò không có việc làm, suốt ngày chơi bài, đọc sách hoặc là nghêu ngao hát.
    Thầy Phước Sanh nói với tôi: “Em về thăm nhà đi, rồi sắp xếp lên Hà Nội cho kịp ngày nhập
    ngũ”.
    Tôi đạp xe về thị xã Hải Dương, cái bánh xe nhỏ xé làn nước lấp xấp trên mặt đường đất.
    Mưa giăng kín trời. Về đến nhà buổi chiều thì xẩm tối, con nước lớn ập đến. Nước sừng sừng
    dâng lên, nhanh chóng ngập lút hết tầng trệt của tất cả các ngôi nhà. Đêm xuống, phố phường
    soi bóng trên mặt nước mầu nâu bạc.
    Sáng hôm sau con nước lắng lại, nó lờ lững oai vệ dạo quanh. Thuyền bè bắt đầu xuất hiện,
    đông dần, rồi líu ríu ngang dọc trên lưng nước như trẩy hội.
    Xuồng của công an đi giữ trật tự trên sông phố. Người cảnh sát quần áo ướt nhèm, một tay
    nắm chặt mạn xuồng để giữ thăng bằng, một tay cầm loa pin oang oang truyền lệnh: “Chú ý,
    chú ý… thuyền bè đi về phía tay phải. Đề nghị bà con chấp hành, chống xuồng đi về phía tay
    phải… để tránh tai nạn giao thông!”
    Vắng công an là có đua xuồng. Xuồng tự tạo bằng mọi thứ vật liệu có thể nổi, nên chúng
    quay vòng là chính, tiến lên thì không mấy. Tiếng cười sặc, tiếng hò la vang động.
    Căn nhà của Má tôi không có tầng nào, nước dìm nó xuống gần như mất hút, chỉ còn lại cái
    tam giác của mái nhà lộ ra. Phải bắc ván qua hai đầu tường, lót thành một cái sàn rồi lom khom
    ở trong đó.
    Hơn hai tuần trôi qua, không hề có giấu hiệu con nước sẽ rút.
    Rồi một tuần nữa trôi qua, nước như là không có ý định trả lại mặt đất cho người, nó lì lợm
    đến mức đứng im, không chuyển động
    Tôi nói với Má tôi:
    - Chắc con phải bơi về Hà Nội thôi Má.
    Má thở dài:
    đi.

    - Đợi thêm vài ngày, chứ xa lắm, rắn rết nhiều lắm. Để hỏi xem có thuyền bè chở khách thì

    Sốt ruột, tôi ra bưu điện báo cho nhà trường. Bưu điện của thị xã mở cửa trên tầng hai, lối
    vào là cửa sổ. Tôi cặp bè rồi leo qua cửa, nhẩy lên chiếc ghế băng dài, đi trên ghế thẳng tới bàn
    của chị điện báo viên. Có vài người mặc quần đùi, đeo cặp táp, thõng chân xuống nước ngồi đợi
    đến lượt mình được tiếp. Ngoài đường lịch kịch tiếng thuyền bè đụng nhau, tiếng người rơi ùm
    xuống nước, tiếng cười nói ý ới.
    Gửi được vài dòng chữ cho nhà trường, cũng đỡ nóng ruột hơn một chút. Nhưng ba ngày
    nữa trôi qua, nước vẫn không chịu rút. Nhà cửa, cây cối và con người cứ từ từ mỏng vơi đi, tái

    bạc đi.
    Ở cầu Cất, người ta mới thiết lập tuyến ca nô Hải Dương – Hà Nội. Thế là đã đến lúc phải lên
    đường.
    Hôm ấy thằng Vinh em tôi chống hai chuyến bè mới chở hết cả nhà ra cầu. Trời lất phất
    mưa, mây rất nặng.
    Tôi bước xuống chiếc ca nô gỗ chao chiêng, nhìn lên cầu. Ba tôi, Má tôi, hai đứa em tôi đứng
    trên đó. Phía sau là những đám mây màu chì và một khoảng trời rợ lên màu sáng bạc. Cả nhà
    đưa tay vẫy… miếng vá trên vai áo của Má, hơi ấm những củ khoai luộc bên hông tôi, những
    giọt mưa gõ lộp bộp…
    Đến bây giờ tôi còn giữ được mấy câu thơ viết trước lúc ra đi:
    Con đi Ba Má nhé
    Hai mươi năm tròn trịa
    Con gói trong lòng
    Và những ước mong
    Con đem theo ra trận.

    Kể gì một chút thời gian
    Của cuộc đời khao khát
    Nhưng muôn năm
    Là hạt kim cương
    Hỡi những giọt thời gian
    Ngắn ngủi bình thường.

    Con nhớ tất cả Ba Má ạ
    Từ khi trí óc con và tâm hồn con
    Biết nhận những gì con yêu
    Thành kỷ niệm
    Ôi những ngày lưu luyến
    Cháy se lòng…
    ……

    Lũ ở khu vực cầu Lai Vu (Hải Dương) (nguồn: archives.gov.vn)
    ***

    Từ Hải Dương đến Hà Nội khoảng cách là hơn 50 cây số.
    Chỉ có nước, sinh lực của đất không còn. Vài chiếc trực thăng vè vè thả lương thực cứu đói.
    Những con trâu gầy đứng buồn bên những túp lều rơm, trên lưng những quả đồi gồng cong lên.
    Tôi về đến trường trước ngày nhập ngũ một ngày. Cả trường đã đi thực tập, chỉ còn lại vài
    lớp đang học cơ bản. Buổi tối buồn buồn, tôi tha thẩn quanh trường một mình. Cây bằng lăng
    hoa tím, hàng phi lao bên sân bóng chuyền, những khóm tre đằng ngà xào xạc. Hành lang lớp
    học và những bóng đèn tỏa ánh sáng vàng cho chúng tôi ngồi học thâu đêm trước kỳ thi tốt
    nghiệp ngày nào.
    Lớp điêu khắc rộng thênh, im lìm. Bức tượng nghiên cứu toàn thân của tôi vẫn phủ ni lông
    đứng đó. Tôi mở tấm ni lông ra, chợt trào nước mắt. Mùi của đất thân quen. Phải xa rồi, dường
    như xa chính mình. Mọi thứ trong lồng ngực tôi chợt dựng ngợp lên, không thể nhận ra là cảm
    xúc gì, cứ tràn ngập rồi lằng lặng... và rất buồn.
    Những năm tháng học trò đã qua mất rồi. Một quãng đời vất vả, đói và thiếu thốn vô cùng,
    nhưng kỷ niệm thì tròn đầy. Thầy trò, bè bạn đùm bọc nhau, trau dồi nghề nghiệp say
    sưa trong niềm yêu nghề, yêu cuộc sống. Tuổi thơ của chúng tôi thật nhiều gian lao nhưng chất
    đầy ưu ái. Nó sinh động và thiết tha, mãi mãi là nguồn sinh lực của mỗi người.
    ***

    Ở Chicagô, có lần tôi đến thăm một người bạn họa sĩ Mỹ. Ngôi nhà xinh xắn của anh ngự
    trên một triền đồi cỏ xanh, rợp mát bóng cây.
    Tôi rất muốn biết quang cảnh của nước Mỹ vào thời điểm mà họ mang bom trút xuống Việt
    Nam, nên hỏi:
    - Cách đây ba muơi năm nước Mỹ có khác bây giờ nhiều không?
    - Không, nước Mỹ đã định hình, rất ít thay đổi.
    Người họa sĩ râu xồm vừa tập trung điều khiển quả khí cầu nhỏ bay lượn trong nhà, vừa trả
    lời rồi hỏi:

    - Việt Nam thay đổi nhiều chưa? Tôi biết trong chiến tranh đất nước ông rất nghèo. Có phải
    cái nghèo đã giúp cho chiến thắng?
    - Sao nghèo lại giúp cho chiến thắng?
    - Khát vọng đổi đời, phải thế không?
    Sau này, khi đất nước bắt vào nhịp đổi mới, mọi sự thay đổi thật mau lẹ, con người cũng
    vậy. Thỉnh thoảng tôi lại nhớ tới buổi trò chuyện với anh bạn Họa sĩ này.
    Với cách sống Mỹ thì ý nghĩ cho rằng cái nghèo đã giúp người Việt chiến thắng có thể hiểu
    được, hoặc có thể cười được. Lạ là có nhiều người Việt Nam cũng lằn nhằn như vậy về cuộc
    chiến đã qua.
    Tôi hỏi:
    - Thế còn sự hy sinh, tại sao người ta lại quên cả bản thân mình?
    Quả khí cầu nhỏ khẽ đụng vào tường. Anh bạn ngửa cổ nốc một hơi bia rồi bắt vào câu
    chuyện chăm chú hơn. Thằng em họ tôi ngồi dịch.
    Thực ra nếu trong lòng vô tư thì nhìn vào lịch sử sẽ rất dễ sáng tỏ. Người Việt vừa ra khỏi
    cuộc trường chinh thứ nhất, đuổi thực dân Pháp, đã bị thúc ngay vào cuộc trường chinh thứ
    hai, đánh đế quốc Mỹ.
    Không đánh thì bị đánh. Hiệp định Giơnevơ không được thực thi cho thấy dã tâm của Mỹ. Họ
    coi thường một dân tộc nhỏ, tự cho có thể làm được cái việc mà nước Pháp đã không thể làm
    được.
    Người Việt Nam nghèo nhưng biết nghĩ về người khác, lo cho người khác và hết lòng đùm
    bọc nhau… vì vậy nên thiên nhiên đùm bọc họ, người với đất trời kết lại, tạo thành một khối
    sức mạnh không thể lường nổi.
    ***

    Mùa gặt.
    Xóm làng thơm nồng mùi rơm. Sân kho phồng lên trong nắng.
    Trung đội xếp thành hàng ngang. Lính quân nhu phân phát quân phục cho lính mới.
    Ba lô, quần áo, dép đúc, khăn mũ và những thứ thiết yếu khác được những người lính già
    ném xuống chân những người đang mặc thường phục. Cởi bỏ thường phục, mặc quân phục tại
    chỗ.
    Tôi nhận được bộ số 1 với một cái áo trùm xuống tới gối, còn quần thì kéo lên tới ngực.
    Người trung đội trưởng đứng trên bậc tam cấp nhà kho rướn cổ nói rất to:
    - Các đồng chí đổi cho nhau. Người nào không đổi được thì báo cho quân nhu để đổi.
    Sân kho hợp tác xã đầy nắng đang im phắc chợt nhốn nháo. Người người nhấp nhổm săm
    soi quần áo. Bỏ áo vào quần, kéo ra rồi nhét vào. Xắn ống quần lên rồi lại thả xuống.

    Trung đội trưởng lại rướn cái cổ nổi đầy mạch máu, nói:
    - Quân phục khác với xơvin, phải rộng rãi mới vận động chiến đấu được. Các đồng chí cứ
    mặc rộng, rồi sẽ quen.
    Mầu xanh thay đổi hoàn toàn cảm giác của ngày hôm qua. Không còn viên chức, sinh viên
    hay thợ thuyền nữa, đột nhiên thấy gần gũi nhau hơn.
    Bọn học trò xúng xính trong quân phục, trông mới mẻ như những đọt rau non. Túc thì mỏng
    tang. Tích Minh phồng lên như con nhái bén. Mai Châu sẵn có bộ khung chuẩn nên rất ngay
    ngắn. Bọn Nghiêm, Huân, Ứng, Thịnh, đứa nào trông cũng lạ hoắc.
    Trước khi nhập ngũ tôi có hai bộ quần áo, một cũ, một mới. Bộ đồ mới là bộ vía chuẩn bị
    cho ngày tốt nghiệp, Má tôi phải dành dụm tiền mấy năm mới sắm được. Đấy là cái quần vải
    ximêli mầu xám tro và cái áo pôpơlin trắng, tôi đã tặng cho Dũng, thằng bạn thân cùng lớp
    trước lúc ra đi.
    Còn bộ đồ cũ, nó phục vụ tôi suốt gần 6 năm, đến bây giờ đã ngắn cộc và có hai miếng vá,
    một ở mông, một ở lưng. Nó đang nằm ở dưới chân tôi, cái lai quần sờn rách thò ra, tôi lặng
    người như chợt nhìn thấy mình, thấy ngày hôm qua… một thời thân thương đã qua rồi.
    ***

    Cũng vẫn cái sân kho khô khốc của hợp tác xã, đến giờ ăn cơm thì xanh rờn mầu xanh quân
    phục. Mấy trăm người ngồi xệp trên mặt sân gạch, xôn xao, rào rào như tằm ăn rỗi. Sáu người
    quây quanh một mâm. Thức ăn gồm có tép rang, đậu phụ rán và canh rau muống.
    Sau bữa cơm, tôi ôm bộ quân phục mới toanh ra ao nhỏ sau nhà, nhúng nó xuống nước, rồi
    đập, đạp, vò. Tôi muốn nó cũ đi một chút vì không quen mặc đồ mới, đồ mới làm cho thấy tò te
    quá, mặc đồ cũ tự tin hơn. Nhưng vải quân phục rất bền, dễ gì cũ đi trong phút chốc. Dù sao thì
    nó cũng đỡ sột soạt hơn một chút.
    Đây là làng Khuyến Lương thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội.
    Tôi nhập ngũ vào sư đoàn 325, lúc này là sư đoàn huấn luyện tân binh. Một sư đoàn toàn
    lính mới, tất cả đều là sinh viên và cán bộ nhà nước, có một số nghiên cứu sinh mới ở nước
    ngoài về.
    Bộ khung huấn luyện gồm những người lính già dặn kinh nghiệm, đa số đã trải qua chiến
    trường. Tiểu đội trưởng của tôi người Thái Bình, cấp bậc hạ sĩ, mặt vuông, miệng nhọn rất hay
    cười, tên anh là Chữ.
    Những ngày này thời gian được phủ kín mít. Sáng sớm tập thể dục, rồi học chính tri, điều
    lệnh, nghiêm nghỉ, bước đều. Tối thì tập đi bộ, từng trung đội xếp thành một hàng, nối nhau
    lòng vòng đi từ làng này sang làng khác, chuyện trò rôm rả, không khí vui như trẩy hội.
    Buổi trưa thường đượm vẻ trầm ngâm. Những chàng lính trí thức ưa suy tư, nhớ nhà, lúc
    này mới có chút thời gian để lặng lẽ riêng mình.
    Căn nhà tôi ở nằm ngoài rìa làng. Nhà không có chủ, tường vỡ, ngói mục. Bên kia cái ao nhỏ
    đầy bèo là thửa ruộng mới gặt, những gốc rạ khô nối nhau trải tới chân đê. Trên mặt đê, lâu lâu

    xuất hiện một vài chiếc xe tải chạy rì rì. Có chiếc xe ca mầu xanh tróc lở chở khách chạy qua
    chạy lại Hà Nội – Thanh Trì. Nhìn nó nhớ nhà, nhớ các bạn.
    Tiểu đội trưởng Chữ bảo: “Đừng ngồi một mình, chỉ tổ nhớ vợ, sinh ra tư tưởng”
    Cuộc đời bộ đội thế là bắt đầu.
    Từ đây câu chuyện sẽ dông dài, nếu kể theo trình tự thời gian thì lan man. Nghĩ đi nghĩ lại
    tôi quyết định gói các việc vào trong các tiêu đề nhỏ. Mong sao ghi được trung thực những năm
    tháng mà những người tuổi trẻ thời ấy đã trải qua.

    Chương 2: Những vỡ vạc đầu tiên – Sự thơ mộng của gian lao
    Buổi sinh hoạt trung đội đầu tiên. Trung đội trưởng cầm cây đèn dầu trên tay, đứng trước
    hàng lính trẻ, tự giới thiệu:
    - Tôi thì tên là Khiết. Như thế là 43 tuổi, có một vợ và 4 con - cả trung đội cười ồ - Cháu lớn
    nhất năm nay 13 tuổi, cháu bé được 6 tuổi. Quê tôi ở Hà Tây.
    Rồi anh nói về tầm quan trọng của việc xác định tư tưởng riêng trong tâm tư mỗi người, về
    những gian khổ của đời bộ đội, đặc biệt nhấn mạnh sự đùm bọc nhau trong sinh tử chiến trận.
    Ánh đèn dầu vàng ủng chập chờn trên gương mặt khắc khổ của người sĩ quan. Giọng anh hơi
    khàn như được phát ra từ một cái nền đậm đặc những khốc liệt. Hơn ba chục mái đầu xanh
    ngẩng lên, chăm chú.
    Sau đó tôi được phân vào tổ ba người gồm anh Kế kỹ sư điện và anh Kỳ ở bộ giao thông. Tổ
    ba người là nhóm sinh hoạt nhỏ nhất trong quân đội, còn gọi là tổ tam tam.
    Anh Kỳ làm tổ trưởng, tính tình anh đằm thắm, có niềm thích thú lớn nhất là khuyên nhủ
    người khác. Còn đồng chí Kế thì sôi sùng sục, ăn to nói lớn. Buổi tối, sau khi sinh hoạt trung đội
    xong, Kế thường chuồn đi mất tăm, gần sáng mới mò về, lẻn vào khe khẽ thầm thì với Kỳ: “con
    bé tình cảm quá ông ạ…”
    Mấy thằng bạn cùng trường hay tụ họp trước bữa cơm. Gặp nhau thấy đỡ trống trải. Trong
    đám, Huân già dặn hơn anh em. Nó từng đi lính một năm rồi trở về, bây giờ tái ngũ. Kinh
    nghiệm và những tiên đoán về đường đi nước bước mà chàng cựu binh truyền giảng luôn làm
    bọn lính tò te phải dỏng tai lên chăm chú.
    Sân kho hợp tác xã có cái mái hiên. Có hôm trời mưa, sấm giẫy đành đạch trên trời. Bốn
    thằng nằm dài dưới hiên nhà. Huân lơ mơ ngủ. Tôi vỗ nhẹ vào ngực Huân:
    - Dậy, dậy về nhà, vợ gọi kìa.
    Cả bọn cười ồ. Huân trở mình thở dài:
    - Người cứ bã ra thế này…

    Rồi ê a: “Nhớ thương không bến bờ… có anh đang đứng chờ…”. Giọng nó gà gà y như khi còn
    là lớp trưởng của chúng tôi ở trường. Các chàng thư sinh phút chốc rơi vào nhớ nhung. Có cái
    gì đó vô hình bất chợp phồng lên trong ngực. Nắng vẫn nắng như thế, cây xanh vẫn xào xạc,
    mái tranh của những ngôi nhà vẫn lìm lịm trong bóng mát. Những thằng bạn quen thuộc từ
    thủa nhỏ vẫn đang ở gần bên nhau. Mà sao tất cả như là khác lạ.
    Vào bộ đội, bọn học trò đều hiểu đây là cuộc đời rồi. Cuộc đời sinh tử rất cần phải cố gắng.
    Con đường đi đã quá rõ ràng, mà sao lòng vẫn cứ lơ ngơ, như là hồi hộp, như là chưa định.
    Những người bạn mới của tôi ở trung đội đa số là viên chức. Viên chức thì tự hào về tuổi tác,
    về công việc đã làm và kinh nghiệm sống. Còn sinh viên thì tự tin vào cái sự nhanh nhậy của
    tuổi trẻ. Chúng tôi biết phận mình còn non nớt nên luôn tỏ ra kính nể, tôn trọng. Nhưng những
    người nhiều tuổi thì ngược lại, họ hay chú ý suy xét, xem bọn trẻ con này có định chơi trèo
    không.
    Những ngày ở làng Khuyến Lương, với tôi, nó làng lạng như chưa có đủ thăng bằng. May mà
    bạn bè ở trường thường hay lên thăm. Chúng đạp xe hơn chục cây số, đem theo nào là trái cây,
    bánh mỳ, trà, thuốc lá… Căn nhà nhỏ tôi ở, cứ vài ngày lại nêm chật ních người, chật ních yêu
    thương của tình bạn. Lính tráng nói năng bạo mồm bạo miệng dù mới làm lính chỉ có vài ngày.
    Học sinh thì nhè nhẹ và e dè.
    Đường làng xôn xao, học trò với bộ đội gặp nhau, tiễn nhau, cười cười nói nói. Sau mỗi lần
    đưa các bạn ra đầu làng rồi trở về, tôi thấy mình như là gần gũi với hiện thực hơn.
    ***

    Một tháng sau, có lệnh hành quân.
    Đêm ấy, lần đầu tiên tôi nhận thấy không khí thực sự của lính. Những khối người chuyển
    động lặng lẽ, khẩn trương. Chỉ có một mầu đậm xậm trong đêm, nặng trịch, như tách ra khỏi
    không gian thực của xóm làng.
    Đoàn xe chuyển bánh trong đêm thanh vắng. Ngày mai dân làng sẽ không khỏi bàng hoàng,
    xóm làng bỗng chốc lại vắng lặng.
    Xe phủ bạt bịt bùng, Hà Nội quay về hướng nào, tôi không thể định hướng được. Thôi chào
    nhé, bạn bè và ký ức tuổi thơ.
    A trưởng phổ biến:
    - Hôm nay đơn vị chuyển đến nơi huấn luyện chính thức, ở đâu thì đến nơi sẽ biết.
    Không ai nói lời nào. Lâu sau, Kế khẽ cất giọng ồ ồ: “Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ…
    bao đồng bào đang mắt đỏ chờ ta…” Xe lắc qua lắc lại. Mọi người cất tiếng hát theo, tiếng hát
    chắc là lan tỏa trên cánh đồng, vì gió len vào xe có mùi nồng nồng của gốc rạ.
    ***

    Yên thế mùa đông 1971.

    Rất gần rừng nhưng chưa phải là rừng. Trung du, đồi bàng bạc, lạnh ngăn ngắt. Những rạng
    tre thanh thoát và những con đường làng quang quẻ. Tiểu đội tôi ở nhà bác Tập, cũng là một
    ngôi nhà chơi vơi ngoài rìa làng.
    Hôm được phát súng và quân dụng, sau giờ sinh hoạt buổi tối, tôi cùng ba thằng bạn
    Nghiêm, Thịnh, Túc nai nịt đầy người, săm soi súng đạn lưỡi lê, rồi lốc xốc kéo nhau lên đồi.
    Đứa nào cũng thấy mình lớn hẳn lên, đàng hoàng và quan trọng.
    Lững thững bước đi theo con đường mòn quanh quanh lưng đồi. Trăng muộn sương mờ làm
    cho không khí bàng bạc. Những thửa ruộng lúa non dưới chân đồi như nín thở. Phút chốc, tôi
    thấy mình chợt hóa thành chàng lính ngự lâm oai hùng trong “Năm chàng ngự lâm pháo thủ”.
    ***

    Tập tành kỹ chiến thuật không gian nan bằng rèn luyện. Tôi sợ nhất việc phải lên rừng lấy
    củi. Chàng bộ đội thư sinh so vai rụt cổ, bước lập bập mà dè dặt như nâng thúng trứng trên vai.
    Hai bó củi nặng ịch. Đòn gánh là thân cây rừng cứng ngắc, đè nghiến, nhức nhối.
    Nhiều lần tôi phải thả gánh củi xuống, ứa nước mắt đứng nhìn con đường rừng cong queo,
    thấy nó xa dằng dặc. Nhưng rồi cũng lọ mọ tha về đến nơi, rồi lại gánh nữa, rồi cũng quen.
    Đại đội xây dựng nhà bếp, nhà ăn, nhà kho. Lính tráng được giao nhiệm vụ đi xin tre của
    dân. Tôi đi với anh Kế, đi với đồng chí này thì rất yên tâm vì anh lém lỉnh và khéo.
    Đi qua đồi, chui vào làng rồi lại qua đồi, vào làng, hết làng này qua làng khác. Gặp sân kho
    hợp tác xã, các cô gái Yên Thế đang làm lúa buông lời cợt nhả... Chúng tôi nhẩy vào sân, mỗi
    thằng dắt một con trâu hỳ hụi bừa rơm cùng các cô gái. Các bà xởi lởi gán cho bộ đội những cô
    gái xinh nhất. Kể như cá gặp nước, miệng nói như tép nhẩy làm cho không khí vui lên tưng
    bừng.
    Đến tối, khi trở về, hai thằng đã có hai vác tre của các cô gái làng chặt cho. Bốn cây tre dài lật
    ngật. Đồi sim mờ dưới ánh trăng. Suối nhỏ khe khẽ chảy.
    ***

    Chương trình huấn luyện kín mít cả ngày đêm, chỉ trừ lúc ăn và ngủ. Một tuần lễ thường trôi
    vèo qua như một cái chớp mắt. Thi thoảng cũng lọt được vài khoảng trống bất ngờ hiếm hoi,
    như là hôm nay tiểu đội tôi hoàn thành trước thời hạn việc trát cái vách tường nhà kho, được
    ban chỉ huy đại đội thưởng: Nghỉ một buổi chiều và một buổi tối.

    Huân rủ tôi xách cặp đi vẽ. Hai thằng hăng hái xông ra ruộng lúa. Ruộng đang mùa gặt, mầu
    vàng mầu nâu nồng nàn, mùi thơm của rơm rạ nồng nàn. Ngồi xệp trên bờ ruộng, Huân bóp
    mầu ra miếng ni lông, mùi sơn dầu sực lên làm cho nhớ da diết.
    Huân vừa múa bút vừa sôi nổi truyền thụ cho tôi những quan niệm quan trọng về cuộc sống
    và nghệ thuật. Chán chê thì chuyển qua đề tài tình yêu, say sưa kể lể những đoạn yêu đương
    của nó với nàng Phương … Tiếng nói của Huân lúc thì lọt vào tai tôi, lúc lại bay bay vào những

    lùm tre.
    Chiều xuống, bên sườn đồi Túc, Nghiêm đi lội suối về. Hai thằng cười nói bi bô rủ nhau tạt
    vào nhà các cô giáo làng.

    Nhật ký ghi
    23/11/1971.
    Nếu tôi là kẻ đang đi trên con đường đầy gai góc và bụi bặm, sặc sụa nắng hanh, lòng chán
    ngán vì mệt mỏi. Hay tôi đang dấn bước trên con đường thẳng xa vô cùng tận, chỉ có những hàng
    cây và sương mờ sà thấp huyền ảo.
    Thì tôi vẫn cúi đầu mà đi, mắt như nhắm lại để mà bước. Tôi sẽ cố quên mọi mệt nhọc, cốt sao
    nuốt hết chặng đường lê thê đầy chán nản.
    Thế nhưng tôi biết rằng tôi đang đi trên con đường dẫn đến nghệ thuật – con đường đẹp như
    giấc mơ - mỗi khi trí óc suy tưởng – nhưng lại vô cùng gian nan trong thực tiễn.
    Nhiều lúc tôi như bơi giữa mênh mông trong chính cái đầu của tôi. Con đường tôi đi có khi tắt
    hút. Ngơ ngác và bàng hoàng. Những lúc ấy tôi như kẻ thất trận. Hoang mang và hoảng sợ.
    Nhưng tôi đang đi trên con đường nghệ thuật mà có lẽ vì nó tôi mới phải sinh ra ở trên đời
    này. Cho nên tôi phải lấy lại lòng dũng cảm và nhiệt tình. Không cúi đầu mà đi. Nhưng cũng không
    sốt ruột. Nỗ lực đem trái tim mình soi đường cho bước chân.
    Giữa cuộc sống, đôi khi con tim bơ vơ không nơi bấu víu. Tôi muốn đem tâm hồn của mình tìm
    nhập vào mọi người, tìm ở họ những cái gì đẹp tươi ở con người.
    Nhưng quả thật không thể đem hương hoa mà ôm choàng vào cuộc sống.
    Tư tưởng như những chàng công tử trơ trẽn trước những bàn tay lao động sần sùi. Phải hành
    động, phải lao mình vào, sống với con người bằng tiếng cười câu nói, bằng sự cọ xát của làn da.
    Hiểu nhau qua mùi mồ hôi. Cuộc sống của chúng ta không ưa tìm hiểu bằng tia nhìn, bằng ý nghĩ
    xa xôi. Nó nhún vai và quay lưng lại ngay.
    “Gồ ghề và khúc khuỷu” là những từ ngữ người ta vẫn thường gán cho những con đường đi tới
    tương lai trong cuộc đời. Tôi đã từng được nghe không biết bao nhiêu lần, nhưng bất cứ cái gì
    cũng chỉ sâu sắc khi ta đã từng trải qua nó.
    Tuổi thanh niên cùng một lúc đi trên muôn nẻo đường, vì thế nên nó tiến lên rất ít mà chỉ dàn
    rộng ra. Máu nóng sôi trào và lòng tôi mong mỏi nhiều thứ. Những mạch máu của tâm hồn tôi
    tuôn xối về khắp các ngả, nhưng cuối cùng thì ngả đường nào tôi cũng cảm thấy thật là xa xôi – Và
    thế là có khi thất vọng.
    Mác đã từng nói rằng: “Điềm đạm là mảnh đất tốt nhất cho cây xanh đâm chồi nẩy lộc”. Quý
    biết bao nhiêu nếu cùng với nhiệt tình sôi bỏng, chàng thanh niên có thêm một bộ não tỉnh táo và
    thông minh.
    ***

    Huân loay hoay vay được của thủ trưởng trung đội 5 đồng. Sau bữa cơm chiều nó rủ tôi với
    Nghiêm, ba thằng cùng hăng hái kéo nhau tiến ra thị trấn Nhã Nam.
    Trung tâm hành chính của huyện Yên Thế rất nhỏ, chỉ có độc một con đường đất đỏ vắt
    ngang. Hai bên đường là hai dãy nhà kéo dài suốt dọc thị trấn, phần lớn là nhà lá, chỉ thế thôi
    nhưng cũng có đủ hàng quán như mọi phố thị: Phở, bún, xôi, chè, quán trà 5 xu.
    Đêm, phố huyện là phố đèn dầu. Ba chàng trai trẻ mặc quân phục sà vào một quán nước
    vắng nhất để ngay lập tức trở thành nỗi kinh sợ của những chiếc kẹo lạc, kẹo dồi.
    Một người lính khom khom bước vào. Hắn gầy như một con nghiện, có đôi mắt là sáng và to.
    Anh chàng chào ba người lính lạ rồi sà xuống ngồi, xưng danh ngay là sinh viên khoa văn
    trường đại học tổng hợp, sức khỏe B3 nhưng được “nâng lên” B2 để trúng tuyển đợt nghĩa vụ
    này.
    Chắc tại học văn nên nói nhiều, người lính này nói như súng máy. Hắn đã từng được anh em
    cõng trong đợt hành quân vừa rồi, nhưng vì thương anh em quá nên đã bò xuống, lê đi với một
    đoạn dây thừng buộc ngang hông cho đồng đội dắt.
    Huân bắt chuyện với nhà văn, còn tôi và Nghiêm ngồi chăm chú thưởng ngọan vị trà và khói
    thuốc. Bà chủ quán phe phẩy cái quạt nan, chừng cũng thích thú câu chuyện sôi nổi của hai
    người lính trẻ.
    Rồi cũng đến lúc phải ra về. ...
     
    Gửi ý kiến

    “Đọc sách hay cũng giống như trò truyện với các bộ óc tuyệt vời nhất của những thế kỷ đã trôi qua….” (Rene Descartes)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN TRƯỜNG - CẨM GIÀNG - HẢI DƯƠNG!